Friday, November 29, 2019

Truyện ngắn: NHƯ CHIẾC THUYỀN TRÔI – Lê Văn Trung


NHƯ CHIẾC THUYỀN TRÔI – Lê Văn Trung


Tôi quyết định không về và cũng không ở lại Qui Nhơn làm gì.  Tôi sửa soạn ăn thêm một cái tết tha hương.  Thật là buồn, làm sao có thể biết rõ ràng quê hương tôi để bây giờ cứ nghĩ tôi là kẻ tha hương.  Tôi không có một nơi để nhớ về, không có một thời trẻ thơ để hồi tưởng. Cha tôi lênh đênh như một chiếc thuyền trên bờ vô vọng.  Và tôi nằm trong chiếc thuyền đó. Ai cũng có quá khứ, ai cũng có một thời xanh nồng tuổi trẻ đã qua.  Tôi bỗng vụt lớn lên, rơi hẳn từ khoảng không mù mịt.  Tôi không có khoảng thời gian tuổi trẻ, tôi chỉ thấy tôi đang già nua.  Tôi đã nghe Nguyệt kể về tuổi thơ của nàng và tôi thèm.


Cái gì xuôi tôi buồn bã thế này và khiến tôi không về, dù nơi đó còn có ba và hai em tôi, dù nơi đó còn có những ngọn đồi thấp thoai thoải chập chùng mà đến mùa này bông mua nở tím cả khu mộ má tôi.  Cái gì xuôi tôi không ở lại đây dù thân tình vây bọc: chị tôi, mấy đứa cháu ngoan và hồn nhiên.  Nhưng tôi biết rằng dù tôi có về, ở lại hay đi thì nơi nào cũng chẳng là quê hương tôi.  Nhiều lúc tôi nghĩ phải tạo cho mình một khung trời nào đó có dĩ vãng êm đềm của tôi, như bao người khác; có mẹ tôi đốt đèn dạy tôi những mẫu tự đầu tiên, có những tối mẹ buông màn cho tôi ngủ và trong mơ tôi thấy mẹ biến thành bà tiên đã cho tôi chiếc đũa thần để tôi gõ vào nỗi ước mơ hiền lành của tôi.  Ôi, nhưng tôi không thể tưởng tượng để dối mình như vậy được, tôi sẽ rơi vào nỗi thất vọng cay chua.


Tôi sống và luôn luôn như chọn những quán trọ tạm thời, nên việc ở, về hay đi cũng chỉ là những dấu mốc cho một chặng đường.  Cũng như người ta đi tìm một thứ hạnh phúc.  Khi đuổi bắt đối tượng người ta loay hoay chạy từ chỗ này qua chỗ khác, và khi đối tượng đó nằm trong tay thì ôi thôi! Không phải là thứ hạnh phúc mà người ta muốn tìm.  Cũng như người con gái mười ba tuổi dễ yêu, dễ chán, dễ quên, dễ tạo cho mình những khung trời khác, những giấc mơ khác vì tuổi còn non và đời còn dài. Tôi cũng là người muốn đổi thay và tạo ảo tưởng cho mình. Nhưng tôi dễ chán và khó quên.  Thành phố này, con đường này, khu giải trí này đã trở nên quen thuộc đến nhàm chán và tôi muốn bỏ đi, có dịp bỏ đi để hứa hẹn ngày trở lại xem như một đổi thay dù nó chẳng đổi thay chút nào.


Và tôi đã đi.  Hồng đón tôi ở trạm xe ca.  Hai đứa bạn sau bốn năm trời gặp nhau mừng rở.  Hồng kêu một chiếc taxi.  Chúng tôi ngồi băng sau nhìn nhau cười.  Phố đã lên đèn, tôi đưa tay xem đồng hồ, gần tám giờ rồi.  Đêm nay tôi sẽ đón giao thừa ở thành phố xa lạ này.  Lòng tôi bỗng dưng nôn nao kỳ lạ.  Phải chăng chút đời thanh xuân còn sót lại, và chiều nay hé nở trong tôi.  Không.  Đó chỉ là trạng thái khấp khởi của một lần đổi thay.  Trạng thái của một người vừa nhận được những sinh hoạt mới, những hình ảnh lạ đã đập vào nhãn quan và chạy luồn trong cơ thể khiến mạch máu dồn dập và trái tim nhịp sai lạc, hết vẻ bình thường.  Gió hắt hơi mát của cơn mưa buổi chiều còn sót lại.  Tôi ngữa người thoải mái trong lòng xe mơ màng nghĩ về chiếc thuyền của cha tôi trên mặt nước mông mênh. Đời con rồi cũng thế. Phải không.  Một chiếc thuyền và một mặt nước vô bờ.


Nhà Hồng ở trong con hẽm của khu Lò gốm vùng Chợ Lớn.  Hồng đưa tôi lên gác.  Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ lại Hồng.  Cái vẻ mặt non và cái đầu tóc quăn ngày nào vẫn còn, nhưng hắn có vẻ ốm quá.  Tôi hỏi ra mới biết hắn nhịn ăn cho sụt cân và được hoãn thêm một thời gian vì lý do sức khỏe.  Ôi cái thời đại chúng ta.  Có những căn bịnh mà y dược văn-minh-đến-mặt-trăng rồi vẫn không sao trị được.  Mấy năm rồi tôi đóng cái vai hướng dẫn tinh thần với đám học trò ngỗ ngáo cũng chẳng qua là tránh “cầm súng làm người yêu nước”.  Đó cũng là cái bịnh.  Tôi mỉm cười và thầm cám ơn căn bịnh đã nuôi tôi còn sống đến hôm nay.  Hay ít ra cũng còn đủ tay chân mặt mày.  Mỗi người đều có một lý do để sống. Nếu có một đổi thay nào bên kia cõi chết thì tôi cũng tìm một cái chết êm ái cho tâm hồn mình.  Tôi không muốn mình đi về bên kia thế giới với thân thể tàn tật.  Tôi sẵn sàng chấp nhận cái chết nhưng là cái-chết-phải-có-của-đời-người.  Không sống được nữa thì chết.  Tôi không chấp nhận cái chết khi tôi còn đủ sức để sống.  Người ta thường ca ngợi “chết cho lý tưởng” thì tại sao không để tôi chết cho cái lý tưởng của tôi?  Tôi mỉm cười cho ý nghĩ của mình và đứng dậy kéo Hồng xuống phố.


Hồng lấy chiếc xe máy dầu và hai đứa đèo nhau đi.  Chúng tôi quyết định rong ngoài phố cho đến giờ giao thừa.  Phố có vẻ thưa người hơn buổi chiều tôi vừa đến.  Giờ này chắc ai cũng lo sửa soạn cúng ông bà và đón một năm mới hy vọng hơn năm qua.  Tôi không đoán hiểu hết được họ hy vọng gì, nhưng tôi biết rõ ràng trong lòng mọi người là hy vọng ăn cái tết thanh bình, không ước mơ xa hơn, sự hòa bình vĩnh viễn trên đất nước này.  Một vài chiếc taxi lướt qua, vài chiếc xích lô đạp vội vàng như muốn bắt kịp giây phút bình yên dễ tan dễ vỡ của đêm tạm ngừng tiếng súng: 24 giờ hưu chiến.  Cứ an lòng mà đi.  Tôi tự nhủ thầm.  Long rong cho hết phố phường.  Một đêm hòa bình của đất nước.  Bỏ đi uổng lắm.  Những dãy phố cao nghệu, đèn sáng rực muôn màu.  Những con đường rậm bóng cây.  Tự dưng tôi thấy những hàng thép gai quanh những cộng sự cũng có vẻ yên lành.  Đi cho hết mấy phố Saigon.  Biết đâu ngày mai không còn như thế nữa.  Bỗng từng tràng tiếng nổ vang lên.  Tôi đánh thót sau xe.  Hồng quay lại cười.

            - Pháo giao thừa đó.  Yên lòng đi.

Từng tràng pháo liên tiếp nỗ theo sáng lòe hai bên phố.  Xác pháo tung lên đỏ ối như những bông phượng cuối mùa rụng đầy sân trường.  Thì ra mọi người vẫn còn yên vui.  Sao tôi sớm bi quan thế!  Tôi bảo Hồng chạy chầm chậm.  Đêm còn dài mà.  Những tiếng cười chen với tiếng pháo vang vang trên một tầng lầu cao.  Pháo nỗ đầy khắp các ngã đường và ở đâu cũng có vẻ rộn ràng.  Thì ra chúng ta còn sống trong một phút thanh bình.

*
*   *

Hồng đẩy xe vào nhà.  Chúng tôi ngồi trên mấy cái ghế kê gần bên thang gác.  Hồng lấy chai rượu ngâm thuốc bắc rót ra hai cái ly nhỏ đặt trên cái thùng kê gần nơi đó dùng làm cái bàn.  Hắn nhìn tôi, cười:

            - Bây giờ mình say chớ.  Rượu hão hạng đó.  Để tao đi lấy dưa chua.   

Hồng vừa nói vừa đi ra phía sau đem ra một bình đựng củ hành củ cải.  Tôi với tay bốc một củ hành nhai nhai và ngụm một ngụm rượu.

           - Rượu ngon à.  Khá lắm.

Hai đứa tôi chén tạc chén thù gần nửa chai rượu.  Giọng Hồng có vẻ khề khà:

            - Mày không lấy vợ cho rồi mày.  Có nghề có nghiệp lo vợ con đi là vừa.  Tụi tao …

            - Tụi mày làm sao?  Vợ con cái con khỉ.  Tao lo cái thân tao còn chưa kham. 

Hồng ngồi ngay dậy.

            - Chả lẽ tụi mình ở giá suốt đời hả mày?

            - Không cả đời cũng vài chục năm nữa.

Hồng cười nhỏ trong miệng.

           -  Mấy năm rồi mày có về ngoài đó không?

Tôi không trả lời Hồng mà nhìn lên tấm ảnh được lồng khung kỹ lưỡng treo trên vách:

            - Mày còn yêu Mai dữ thế à?

Hồng chồm dậy:

            - Ai nói với mày đó?

Tôi chỉ tấm hình, Hồng nhìn theo, thở dài:

           - Tao tưởng quên được.  Nhưng không mày à.  Có một điều là tao không về ngoài đó nữa.

Tôi uống thêm một tí rượu:

           - Mày về cũng thừa rồi.  Mai đã có con.

Hồng bưng ly rượu nốc cạn và rót thêm.  Tôi đã thấy choáng váng và không uống nữa.
Hồng hỏi tôi:

             - Mày có định đi Cần Thơ không?

 Thăm Nguyệt?  Tôi chưa hề nghĩ từ khi còn ở Qui Nhơn sẽ vào đây đi Cần Thơ thăm Nguyệt.  Còn gì nữa mà tìm kiếm nhau.  Sáu bảy năm trời rồi.  Tôi tưởng tình yêu đã chết hay cố giết chết đi, ít ra nơi Nguyệt, Nàng hẳn đã quên tôi và đang sống bình yên, có thể bên người chồng có chút ít địa vị, danh giá hơn tôi.  Tôi còn tìm kiếm làm gì chỉ phá vỡ hạnh phúc của nàng – nếu thực ở đời có một thứ gọi là hạnh phúc – Tôi đã vô tình gây ra đổ vỡ bây giờ tôi phải gánh chịu.  Không thể chia xẻ nỗi khổ của mình cho một người mình yêu. Tôi đã vì chút lòng tự ái: một người nghèo, vô nghề nghiệp, không tương lai.  Bác nàng đã nói với nàng về tôi như thế.  Nàng thì nói mãi về một quá khứ vàng son.  Tôi làm gì có được một dĩ vãng êm đềm đó.  Tôi đã tự ý lách mình vào lớp vỏ khô cứng sần sùi nghèo nàn của mình.  Và nàng đã hận thù tôi phản bội.  “Phải thế không?  Nguyệt?”   Tôi thầm gọi trong trí và bảo Hồng:


                - Không, tao vào đây chơi với mày rồi phải lo về dạy chứ.  Vả lại ...   
   
             - Sao?
           - Thì mày đủ can đảm về đó không?
           - Tao khác.

           - Ừ thì mày khác nhưng tao cũng có lý do của tao chứ.  Mày bắt tao đi sao được.                

Hồng cười méo xệt:

          - Thì ai bắt mày.  Cái thằng.  Thôi uống đi, uống nữa đi, uống cho say.                

Hồng rót và tôi nốc cạn liên tiếp mấy ly.  Hồng vỗ vai tôi cười khà khà:

          - Khá, khá lắm, ha ha!  Tửu lượng cao đấy.

Tôi phải uống cho say để ngủ đêm này, để khỏi phải suy nghĩ gì hết.  Tôi cầm phần rượu còn lại trong chai uống cạn và ngữa người ra ghế mệt nhoài.

          - Uống nữa nhé, để tao lấy chai khác.

Nhưng chai rượu lấy ra để nguyên trên bàn, không đứa nào uống được nữa.  Hồng ngữa cổ ra sau ghế lim dim một lát đã nghe tiếng gáy khò khè.  Tôi bò lên gác gieo mình xuống chiếc giường bố, rã rời.

Tôi mở mắt tỉnh dậy tưởng trời sáng.  Bên dưới ngọn đèn vẫn sáng trưng và Hồng gục đầu ngủ trên thùng gỗ.  Tôi đưa tay xem đồng hồ.  Mới 5 giờ.  Giờ thứ năm của một năm mới bắt đầu.  Tôi lại già thêm 5 tiếng đồng hồ nữa và gần thêm cõi chết một đoạn đường.  Tôi không biết tôi mong ước gì, dự tính gì.  Tiếng pháo vẫn còn đì đẹt nhặt thưa xa xa.  Tôi trở dậy xuống ngồi trên chiếc ghế cũ.  Bình dưa chua vẫn còn mở nắp và một ly rượu uống dở.  Tôi mở nút chai rót thêm đầy ly.  Chất rượu làm mát cổ họng đang khô và lòng tôi tỉnh lại.  Đời con rồi cũng thế.  Phải không.  Một chiếc thuyền trên mặt nước vô vọng.  Tôi lục lọi trong ký ức còn tiềm tàng chăng những hình ảnh tôi đã quên vùi.  Một vòm trời xanh.  Một phiến mây hồng.  Một chiều trên đồng cỏ.  Một tối trong gian phòng ấm cúng.  Một khuôn mặt dịu hiền cúi xuống.  Không.  Tuyệt nhiên không có gì cả.  Tôi chỉ thấy mơ hồ một khoảng mờ mịt.  Tôi đã bị cắt đứt mất dĩ vãng.  Tôi bị xô bổ vào hiện tại và phải đối kháng với từng nỗi không may.  “Rồi con cũng chỉ là chiếc thuyền lênh đênh trên những bến bờ vô vọng.  Hiện tại cũng chỉ là cái bến trong muôn ngàn cái bến của một trường giang bất tận”.  Tình yêu có níu giữ chúng ta được không? Hỡi Nguyệt.  Sáu bảy năm rồi nó vẫn không chết dù tôi cố giết.  Tôi đào huyệt chôn lấp, nó vẫn bùng dậy.  Nhưng sao nó đày đọa thế này?  Hay tình yêu cũng chỉ là cái bến ảo tưởng ta ghé đến trong ngàn nỗi đắng cay.



Tôi bỗng nghĩ sáng mai tôi phải xuống Cần Thơ.  Anh phải tìm gặp em, Nguyệt ạ.  Bảy tám năm trời rồi, không thể kéo dài thêm được nữa.  Những giọt nước cuối cùng trên phi trường Đà Nẵng của Nguyệt năm nào bây giờ lại nhỏ vào tôi niềm xao xuyến khôn cùng, nhỏ vào tôi từng giọt đắng cay mà giờ đây tôi thấy quí giá, trong và đẹp.  Như những giọt sương.  Tôi phải gặp em, ít ra cũng cho em hiểu rằng buổi chiều trên phi trường năm xưa là giờ sinh nhật tình yêu vĩnh cửu của chúng ta.  Em đâu nhìn thấy được buổi chiều đó, phải không?  Em đã ra đi với chút ít giận hờn dù lòng thắt lại.  Em đã ngộ nhận.  Anh đã im lặng.  Và như thế kéo dài mãi cho đến ngày nay.  Tôi hận tôi sao không nén một chút tự ái, gạt một chút ương ngạnh, ngày nào.

*
*  *

Tôi quyết định ngày mùng ba đi Cần Thơ và không cho Hồng hay biết.  Sáng sớm hôm đó tôi đi và để lại cho Hồng mấy chữ.  Tôi định tìm cho Nguyệt một món quà nhưng không biết mua thứ gì.  Cuối cùng tôi nghĩ đến cái vòng cẩm thạch đã cẩn thận mang theo từ khi còn ở Đà Nẵng.  Thứ vòng bằng đá vẫn được làm ở Non Nước.  Tôi đã giữ nó như một kỷ vật.  Tôi đã mua từ lâu, hồi còn học nhất cấp trong một chuyến đi chơi với bạn bè, tôi định gởi tặng Nguyệt nhưng không biết vì sao tôi còn giữ đến bây giờ.

*
*  *

Tôi ra khỏi quán, tìm một chiếc xích lô, nhưng không có, chỉ toàn loại xe lôi giống như loại xe chạy ở Bồng Sơn.  Tôi ngồi trên xe và về ngã nhà Nguyệt.  Tôi dừng trước căn nhà xa lạ và bỗng dưng tôi muốn bỏ quay đi.  Nhưng một người con gái đã tiến ra tận cửa nhìn tôi tò mò:

         - Xin lỗi ông hỏi ai?

Tôi hỏi Nguyệt và cô gái trả lời tôi biết là Nhụy, em Nguyệt.

        - Chị Nguyệt không còn ở đây, mời ông vào nhà.

Tôi định cám ơn quay đi, nhưng Nhụy đã quay vào trong.

        - Má, ông này hỏi thăm chị Nguyệt.

Tôi tần ngần bước vào nhà cúi chào người đàn bà, bà mời tôi ngồi ghế và bảo Nhụy:

          - Pha trà uống con.

Trong lúc Nhụy đi pha trà, tôi giới thiệu tôi là bạn Nguyệt ở Saigon xuống nhân tiện ghé thăm.  Bà hỏi tôi phải người Trung không, làm tôi giật mình.  Có lẽ nào bà lại biết tôi.  Bà tiếp:

           - Nguyệt đã ở riêng rồi.  Nó mới dẫn con nó coi hát bóng về có ghé đây.  Mẹ con nó vừa ra khỏi đó.

Nguyệt đã có chồng.  Thế là hết.  Tôi thấy chẳng buồn chẳng vui.  Cuộc đời rồi mỗi người có một cảnh, phân định từ hồi nào, bởi một bàn tay vô hình nào.  Chúng ta chỉ chấp nhận dù trong ngàn nỗi xót xa.  Nguyệt đã yên vui.  Tôi chẳng còn lý do gì để tìm kiếm nữa.

Khi Nhụy bưng nước lên tôi đứng dậy xin phép cáo từ và xin địa chỉ của Nguyệt, nhưng chắc là tôi không đủ can đảm đến thăm Nguyệt nữa, dù đến thăm như một người bạn thăm một người bạn.

Cầm cái địa chỉ Nguyệt trên tay tôi đi thẳng về khách sạn trong lòng thầm nhủ sáng mai phải về sớm.  Giờ phút này tôi mới thấy tìm đến Nguyệt là vô lý.  Thế là hết.  Vĩnh viễn không bao giờ tôi tìm gặp nàng nữa.

*
*  *

Khi mở cửa phòng tôi kề tai người bồi phòng nói nhỏ.  Hắn gật gật đầu và tôi dúi vào tay hắn tờ giấy năm chục.  Tôi khép hờ cửa nằm chờ.  Người con gái hiện ra ở khung cửa, tôi ra dấu nàng lách vào không quên khóa cửa lại.  Tôi lấy diêm bật lửa đốt điếu thuốc nằm nhả khói lên trần nhà, lòng trống rỗng.  Người con gái đã nằm gọn trên giường và mỉm cười với tôi.  Tôi quay sang:

           - Em tên gì?
          - Nguyệt.

Tôi như hốt hoảng và hỏi lại:

          - Tên gì?
          - Nguyệt.  Gì mà hết hồn vậy?

Nguyệt.  Tôi thầm gọi trong miệng và Nguyệt quàng tay qua vai tôi.

           - Tại sao em tên Nguyệt?

Thiếu nữ trố mắt nhìn tôi:

          - Ơ hay.

Tôi bỉu môi:

          - Mấy cô thì có hàng vạn tên, nhưng tại sao với tôi cô bảo là Nguyệt.           

        - Ờ thì em nhớ tên nào nói đại tên đó.

Tôi thấy nàng tội nghiệp:

             - Anh yêu em, Nguyệt à.

Nguyệt đẩy tôi ra:
            - Lãng xẹt.

Tôi lầm bầm:

            - Ừ lãng xẹt nhỉ.

Nguyệt trườn lên nhìn vào mắt tôi

             - Anh chàng này thất tình hả.
             - Ừ, thất tình em đó, Nguyệt.

Nguyệt choàng ngồi dậy:

            - Cái gì đây anh.

Nguyệt mở cái hộp đựng chiếc vòng cẩm thạch của tôi ra.

            - Chèn ơi, anh mua cho ai đây hả?

Tôi nhìn Nguyệt:

            - Cho em đấy.  Nguyệt à.

Nguyệt nheo mắt:

           - Thôi đi cha.

Tôi cầm chiếc vòng đeo vào tay Nguyệt.

         - Cho em thật mà.

Rồi kéo nàng nằm xuống.

Tiếng động dưới phố đã im.  Có lẽ trời đang mưa nhẹ.  Tôi vói tay tắt đèn và Nguyệt trườn lên ôm quấn lấy tôi như một con mèo.  Tôi trôi trên vùng lặng câm.  Đời con ngàn đời vẫn thế.  Như chiếc thuyền trôi.  Như chiếc thuyền trôi…


                                           Lê Văn Trung


Truyện ngắn: ĐỜI CÓ NHIỀU CHUYỆN ĐÁNG BUỒN - (Tác giả: LÊ NAM PHƯƠNG tức Thi sĩ Lê Văn Trung)


ĐỜI CÓ NHIỀU CHUYỆN ĐÁNG BUỒN


(Tác giả: LÊ NAM PHƯƠNG tức Thi sĩ Lê Văn Trung)



1.


Người đàn ông loay hoay mãi với chiếc xe đạp cà tàng của mình. Gọi là xe đạp cho có vẻ như thế. Thật ra đó chỉ là một mớ sắt hoen rỉ được nối kết lại với nhau. Một cái khung vá chằng vá đụp bằng những mũi hàn lỡm chỡm. Hai vành xe được chế tạo bởi những vòng cắt ra từ cover, một loại ống cống bằng kim loại từ thời quân Mỹ mang sang. Bọc ngoài lớp vành ấy là một lớp cao su được cắt ra từ những ruột xe phế thải. Những nan xe được hàn bằng những thanh sắt phi 10 chen lẫn với nhũng que gỗ. Không có bàn đạp. Không có xích. Không có tay lái. Để điều khiển chiếc xe, người đàn ông phải buộc vào một que gỗ nơi đáng lý phải là cái ghi đông. Ấy thế mà chiếc xe đã cùng ông lang thang trên khắp nẻo đường xuôi ngược. Len lỏi vào các làng mạc hẻo lánh, những vùng nông thôn heo hút. Ăn bờ ngủ bụi là chuyện thường. Có khi ông leo lên tận đỉnh núi, hay vào sâu trong rừng. Lạc mấy ngày, ăn đọt cây đoát, môn rừng, uống nước bùn, ngủ với sên vắt muỗi rừng.


Người đàn ông ấy là ai? Chẳng ai biết.

Nhưng ông biết ông là ai.

Ông đang làm cái việc mà hình như nhiều người cùng thời đang làm để kiếm cái ăn, cho ông và cho người vợ đang ngày đêm trông ông về với món tiền nho nhỏ sống qua ngày: Ông đi thu nhặt phế liệu về bán lại cho các vựa thu mua. Vài ba tuần ông mới về nhà một lần. Bởi vì với chiếc xe như thế ông không thể đi, về dễ dàng được.


Trong nhũng chuyến lang thang vì cơm áo, ông đã gặp được nhiều người, nghe được nhiều chuyện. Những lúc ấy ông lại nghĩ về đời mình, nghĩ về bao nhiêu người, bạn bè người thân. Kè còn, kẻ mất. Người nằm dưới mộ sâu, người lênh đênh phiêu bạt ở xứ người. Kẻ bỏ xác trên rừng, người gởi thân nơi đại dương thăm thẳm. Và cũng còn bao người như ông đang lang thang lếch thếch khắp cùng trời cuối đất. Tất cả đã mất hết. Chỉ còn lại những thây người biết cử động, đang đi tìm miếng ăn. Bởi vì phải sống. Phải sống.

Không ai có thể tự chọn lựa cho mình. Làm sao chọn cho mình cái chết?



2.



Cho chiếc xe lăn xuống triền dốc. Ông chạy theo với một tốc độ vượt sức chịu đựng. Con đường mòn nho nhỏ, hai bên hình như không có nhà. Trời nắng gắt. Mồ hôi dường như không còn. Người ông khô kiệt. Không chịu nổi. Ông thả tay để chiếc xe tự do lao xuống con đường với một vận tốc không có gì kiềm lại. Ông ngã nhoài bên đường. Hai mắt nhắm lại. Ông thấy người nhẹ tênh. Giá mà chết được lúc này.


Ông mở mắt. Bầu trời trên cao mây trắng trôi bập bềnh. Ông cũng thấy mình trôi bập bềnh. Giờ này chắc vợ ông đang ngồi ngoài hiên mái chòi lợp lá cọ. Nàng chải tóc và nói chuyện với con mèo lông vàng ngồi dưới chân nàng mong tìm chút hơi ấm của con người vốn từ lâu không còn đủ thời giờ để âu yếm vuốt ve nó. Cái chòi dựng tạm bợ bên bìa rừng hoang vắng quạnh hiu. Ông thấy thương nàng vô hạn. Và ông mơ màng thấy nàng từ xa xa đi gần về phía ông. Ông nhắm mắt để cho ảo giác chập chờn hi vọng đó chính là nàng. Nhưng hình như ông nghe tiếng ai đó đang gọi:

Ông gì đó ơi!


Tiếng gọi yếu ớt, giọng khàn khàn, buồn đục như tiếng gọi từ trong sâu thẳm của rừng già. Ông đã từng nghe tiếng gọi này trong những giấc mơ của mình.

Ông ơi? Ông đang làm sao thế?


Ông mở mắt. Một bà già tóc đã bạc, lưng còng, tay chống một cái gậy tre, người gầy và run run, duy chỉ có đôi mắt là còn linh hoạt. Bà tiến gần về phía người đàn ông và cúi xuống như để kiểm tra xem người nằm đó còn sống hay đã chết.


- Dạ chào bà, người đàn ông mỏi mệt nói, bà có thể cho tôi xin miếng nước không ạ?


- Lạy trời! Ông còn sống. Lão cứ tưởng ông đã chết. Thôi hãy ráng đứng dậy, cố đi với lão về nhà. Bà đưa tay chỉ về cuối chân đồi.


Người đàn ông đứng lên dùng tay phủi bùn đất bám dính vào áo quần và mệt mỏi theo sau bà lão. Con đường mòn chỉ vừa một người đi đổ xuống chân đồi. Hai bên cỏ dại mọc tràn lan, những dây cỏ gai nở bông màu tím nhẹ, những cây cúc dại lác đác những nụ vàng, vài con bướm đủ màu sắc bay chập chờn từ hoa này sang hoa khác. Đồi dốc đổ thoai thoải xa dần xuống tận bờ một con suối mùa này hình như cũng cạn khô nên nom rõ những tảng đá hai bên, những gốc cây đã bị đốn nhô lên như những hình nhân quái dị.


Bà lão bước đi nặng nề phía trước, lưng còng quá nên có cảm giác mặt bà luôn luôn nhìn xuống đất. Có cái gì đó nơi bà lão này khiến người đàn ông nhớ đến mẹ mình, và ông cảm thấy gần gũi như được chở che. Ông cảm thấy một nguồn thương cảm vô hạn dâng lên trong lòng. Bất chợt ông gọi nhỏ "Mẹ". Bà lão không nghe gì, cứ lầm lủi bước đi.



3.



Từ dưới triền đồi chiếc xe đạp của ông nằm chỏng chơ, hai bánh xe với những cái nan xe bằng gỗ vẫn còn quay quay theo mỗi đợt gió thốc tới. Đống sắt vụn đổ tung toé nằm rải rác giống những mãnh bom bên một cái hố con.

Người đàn ông nhìn chiếc xe buột miệng:

Thấy mẹ. Không biết có gãy xe không.


Bà lão mơ hồ như nghe người đàn ông gọi:

- Ông nói sao? Ờ, nhà lão ở tận dưới kia gần con suối cạn ấy. Cơ khổ! Làm sao mà ông nằm ở đây vậy?


Không đợi người đàn ông trả lời, bà lão kể lể;


- Năm ngoái cũng có một người ngang qua đây, cũng trạc tuổi ông. Mà sao ông lại đến đây? À mà thôi, tôi tò mò chuyện các người làm gì. Hãy vào uống nước nghỉ ngơi, rồi muốn đi thì đi. Mà có ở lại cũng không sao. Lão sống cô độc, buồn lắm, muốn có người trò chuyện cho đỡ buồn.


Bà lão đưa tay kéo liếp cửa lợp bằng lá cọ, quay về phía người đàn ông:

- Ông vào trong đi, tôi đi lấy ít nước nấu nắm lá vối. Đây là loại nước giải khát duy nhất và cũng ngon lắm, hơn hẳn các loại danh trà mà ông thường uống đấy.


Bà lão cười hóm hém sau câu nói đùa của mình và chống gậy đi về phía bờ suối. Người đàn ông bước vào trong. Một chiếc chỏng tre ọp ẹp kê sát vách lợp bằng lá rừng và được nẹp vào nhau bằng những cây sậy tròn cở ngón tay. Phía cuối giường là cái bếp được kê bởi ba hòn đá. Vài cái soong đã móp méo treo lủng lẳng trên vách. Hơi nóng hãy còn trong lớp tro ủ, thỉnh thoảng một cọng khói lẻ loi hiu hắt bay lên. Ông bước ra sân nhặt một ít cành khô đem vào nhuốm bếp. Bà lão vào mang theo một ấm nước với ít lá vối đã rửa sạch. Bà ngồi xuống cạnh người đàn ông, không nhìn ông, bà nói bâng quơ:


- Đôi lúc lão cũng thấy buồn thật. Nhưng quen rồi.


Thưa cụ, thế con cái cụ đâu? Cụ sống một mình thế này lỡ đêm hôm mưa gió...


Bà lão vẫn chăm chú nhìn vào bếp lửa đang cháy, thở dài não nuột:

- Con với chả cái. À mà tôi cũng có một đứa con đấy chứ. Tôi và ông lão nhà tôi hiếm muộn chỉ có một mặt con. Ôi mà thôi! Thà không có con còn thấy đở khổ hơn, đở đau lòng hơn...


- Cháu xin lỗi đã gợi lại những chuyện không vui cho cụ. Nhưng mà...


Người đàn ông bỏ lửng câu nói, nhìn bà lão, lòng ông thấy xót xa, ông linh cảm trong người đàn bà này đang chứa chất một nỗi đau đớn kinh khủng lắm.


Ấm nước sôi sục sục, bọt tràn ra khỏi miệng, một mùi thơm ngai ngái xông lên khắp căn chòi, ông hít thật sâu, mùi thơm xông lên tận não. Ông cảm thấy dễ chịu vô cùng. Bà lão lấy hai cái bát sành đã sứt miệng thong thả rót nước ra, một lớp bọt trắng trắng vàng vàng sóng sánh trên miệng chén. Đẩy chén nước về phía người đàn ông, bà lão mời:


- Ông uống đi, nóng thì thêm ít nước lạnh vào. Loại nước này lợi gan, mật, ăn dễ tiêu, đả khát. Này mà ông có con không? Hãy dạy cho con ông cái điều mà trước đây chúng ta không được phép dạy. Đó là lòng thương yêu, sự quí trọng mạng sống của con người. Trước đây chúng chỉ được dạy lòng căm thù, một viên đạn phải giết cho được hai mạng người. Và đau xót hơn nữa, chúng được dạy phải giết chính những người thân yêu của mình để chứng tỏ lập trường kiên định không khoan nhượng đối với những người được qui cho là giai cấp bóc lột, giai cấp tiểu tư sản...


Hình như khi nói những điều này đôi mắt bà lão ánh lên một tia giận dữ nhưng rồi bà nén lại, đôi mắt chùng xuống. Bà hớp một ngụm nước, lấy tay cời thêm que củi cho lửa cháy bùng lên.

- Thưa cụ thế ông cụ?


- Ông nhà tôi mất cách đây hai mươi năm rồi. Chết vì buồn bã quá. Vì đau lòng quá. Vì tủi hổ với giòng giống tổ tiên


Nhưng mà... Người đàn ông tò mò.



4.



- Từ cái đêm cách đây hai mươi năm ấy, ông biết không, từ cái đêm oan nghiệt đó, ông nhà tôi như người mất linh hồn, sống vất vưởng như cái bóng. Suốt ngày không nói. Đôi mắt sâu hun hút như một vực thẳm chứa nỗi buồn của kiếp người. Từ cái đêm ấy.


Bà lão chợt im lặng. Ngoài kia mặt trời đang xuống thấp. Lác đác có vài cánh chim bay về phía đồi xa. Một luồng gió lành lạnh thổi nhẹ qua khung cửa mang theo mùi hương của chiều. Ông vấn một điếu thuốc rê và châm lửa.


- Ông lão nhà tôi trước kia cũng hút thuốc. Nhưng từ cái đêm oan nghiệt đó... À, ông có biết uống rượu không? Trong cái chai dưới gầm giường kia còn một ít đấy.


Người đàn ông lấy cái chai và rót rượu ra cái bát vừa uống nước xong.

- Mời cụ.


- Không, tôi không biết uống rượu. Từ hôm giỗ ông nhà tôi vẫn còn đấy. Ông không có con à? Phải dạy chúng đấy ông ạ. Lòng thương yêu. Quí trọng mạng sống của con người. Đừng nuôi lòng thù hận, bất cứ ai.


Người đàn ông vẫn chưa hiểu tận tường câu chuyện mà bà lão đang kể. Hình như bà thấy quá khó khăn nếu phải kể ra cái điều mà bà muốn quên đi, cái điều mà từ đó tai họa đổ ập lên gia đình bà, lên đời ông cụ, lên đời bà. Ông nhấp một tí rượu và chờ đợi.


- Ông biết không, nó là một thằng bé rất kháu khỉnh, đôi mắt sáng, môi đỏ tươi, vầng trán thông minh. Nhưng ông biết sao không? Chúng tôi hình như càng ngày càng mất cái quyền được dạy dỗ nó. Không có quyền.


Giọng bà trầm lại gần như bà đang nói với chính mình. Người đàn ông thấy một giọt nước mắt đặc quánh nặng nề lăn từ hốc mắt sâu hoắm của bà lão, dường như không đủ sức lăn xuống nữa, giọt lệ nằm lại nơi lưng chừng gò má nhăn nheo.


- Năm mười lăm tuổi nó bỏ nhà đi không nói với chúng tôi lấy nửa lời. Hoảng. Chúng tôi đi tìm nó trong vô vọng. Mất ăn mất ngủ. Bệnh viện nào chúng tôi cũng đến, nhà giam nào chúng tôi cũng đến. Mấy thầy cô nơi trường cháu học cũng không thể trả lời chúng tôi. Chúng tôi chia nhau đi tìm. Ông về tận dưới quê nội, tôi ra tận quê ngoại. Không có. Chúng tôi tuyệt vọng ê chề.


Người đàn ông nôn nao:

- Nhưng cuối cùng có tìm ra anh ấy không? Thưa bà.


Bà lão rót thêm cho mình một chén nước nữa, bà thổi nhẹ lớp váng và uống từ từ. Giọt nước mắt trên gò má nhăn nheo của bà cũng đã khô, chỉ còn để lại một chấm màu xam xám. Bên ngoài trời đã bắt đầu tối. Bà lão đưa tay dò tìm trong góc bếp lấy ra chiếc đèn dầu làm bằng một nửa cái chai nho nhỏ.


- Ông thắp giùm đèn đi, tôi luộc mấy củ lang. Tôi đãi ông bữa tối bằng củ lang. Nhà chỉ còn có thế. Hôm nay tôi không xuống làng được, hết gạo từ mấy bữa nay.


Người đàn ông đỡ cái soong từ tay bà lão và bắt lên bếp. Bài trường ca buồn vô hạn của đêm mùa hạ nơi đồi nương bắt đầu rả rích. Bóng của hai người rung rinh lay động trên vách lá rách nát. Hai mái của túp lều không đủ kín để che ánh sáng yếu ớt của những vì sao xa, và những con đom đóm chớp sáng khiến người đàn ông nhớ tới những đêm nằm rừng, ngửa mặt lên trời, nhớ đôi mắt của nàng, đôi mắt chứa đựng cả bầu trời xanh thăm thẳm.


Mùi của khoai lang đang chín thơm lựng, ông nhớ đôi môi đỏ thắm của nàng. Đôi môi ấy đã mím chặt lại khi lần đầu tiên đưa một mẩu khoai mì lên miệng. Nhưng rồi gần chín năm trời, hai vợ chồng ông đã ăn khoai mì thay cơm.


Bà lão cẩn thận vớt từng củ khoai để lên chiếc đĩa bằng sành cũng đã sứt mẻ. Từ cái bọc bằng nilon bà lấy ra một ít muối.


Hai người ngồi ăn trong im lặng. Mỗi người đang thả dòng suy nghĩ của mình theo một hướng. Bà lão hình như chưa thể nói ra điều đau lòng. Người đàn ông lại nôn nao muốn biết tại sao người con bỏ đi, tại sao bà lão lại vừa đau xót vừa có vẻ như uất giận. Cuối cung bà lão lên tiếng:

- Ừ này, ông ở đâu đi lạc về đây? Ông đang làm gì?


- Cháu ở cách đây cũng xa, người đàn ông trả lời ậm ừ. Nói chung có nói cụ cũng không biết. Nhưng cụ yên tâm. Cháu là người đang cố sống lương thiện. Bây giờ cháu đi đâu, bất cứ nơi nào cũng chỉ để kiếm cái ăn, kiếm cái ăn bằng mồ hôi của mình.


- Mà thôi. Trước đây cũng có một người lạc tới chỗ này. Người ấy cũng trạc tuổi ông. Cũng ít nói. Cũng cho mình đang cố sống lương thiện.



5.



Bà lão hình như quên mất câu chuyện mình kể dở dang, loay hoay dọn chiếc chõng tre.

- Tối nay ông trải mấy cai bao kia gần bếp ngủ cho ấm. Đêm ở đây lạnh lắm.


- Nhưng thưa cụ, người con của cụ sau có trở về không ạ?


Bà lão leo lên chõng tre, chưa muốn nằm, ngồi thu gối lại, mắt lim dim xa vắng:

- Thật ra tôi không muốn nhớ tới chuyện này ông ạ. Lại càng không muốn nhớ tới đứa con mà mình đã bứt ruột sinh ra. Nhưng biết làm sao, thưa ông. Giọt máu của chúng tôi mà!


Người đàn ông đứng dậy kéo liếp cửa lại, trời bắt đầu trở lạnh. Gió thổi qua những khe cửa rách làm những mãnh lá kè rung lên tạo nên một thứ âm thanh rin rít. Xa xa về phía tận ngôi làng vọng đến tiếng chó sủa bâng quơ.


- Nếu còn sống năm nay nó cũng gần bằng tuổi ông, à, mà tôi có biết tuổi ông là bao nhiêu đâu.


Bà lão thở dài. Một lần nữa giọt nước mắt khô đặc lại rỉ ra nơi khoé mắt sâu hun hút của bà lão, rồi cũng như lần trước, nó không đủ sức lăn xuống mà đọng lại cam đành, chịu đựng.


Nó bỏ đi thật ông à, bà lão lại xoay về chuyện cũ, không tin tức, không để lại chút dấu vết gì, như thể nó chưa hề hiện diện trên đời này. Còn chăng là nỗi đau trong lòng chúng tôi.


Bà lão hít một hơi dài như để lấy can đảm để tiếp câu chuyện:


- Hai năm sau từ ngày nó bỏ đi, một người trong làng đến nhà tôi với vẻ mặt hớt hải và bí mật, kéo tôi ra một góc sân, kề sát miệng vào tai tôi: "Đêm qua, nó về làng bà ạ." "Ai?". "Thì thằng con bà chứ ai". Giọng người đó nhỏ lại hơn "Nó mang súng có cả hai người lạ nữa cùng đi với nó" Lúc đó tôi nghe hai tai mình ù ù, đôi mắt hoa và không còn đứng vững nữa. Sau khi người khách ra về, tôi vào báo lại với nhà tôi. Ông im lặng. Tôi cũng im lặng. Nhưng trong lòng không khỏi khấp khởi mừng. Ít ra nó cũng còn sống ông ạ.


Bà lão lại lau giọt nước mắt đã khô và cũng đọng lại một vệt xam xám trên gò má nhăn nheo.

- Làm sao mà nó không ghé về nhà nhỉ? Ít ra cũng để thăm chúng tôi một lát chứ. Bà lão như nói chuyện với chính mình.


- Có lẽ anh ấy bận công chuyên quá, người đàn ông an ủi. Ông hiểu ra chuyện gì rồi. Anh con trai đó đi đâu, làm gì, với ai, và trở lại làm gì, ông mơ hồ thấy được. Hình như trong thời kỳ ông sống trước đây, ông đã nghe nhiều chuyện như thế. Dĩ nhiên mỗi chuyện có khác nhau, nhưng cơ bản là giống nhau cái chung nhất


Hồi còn học trung học, trong lớp ông cũng có vài người tự dưng biến mất, về sau thì nghe nói người này chết chỗ này, người kia đang xuất hiện đâu đó, bí mật, hư hư thật thật. Học xong trung học, cố gắng ngồi ở giảng đường đại học vài năm cuối cùng rồi cũng phải đi đánh nhau, tham dự vào cái trò chơi chém giết chẳng để làm gì, chỉ tìm cách trốn chạy những vây bắt của số phận con người trong cái thời buổi mà con người bị điều khiển bởi một hệ thống đủ màu sắc của cái gọi là văn minh vật chất, trong cái thời buổi mà ngôn ngữ của nhân gian cần phải được định nghĩa lại.


Im lặng một lát bà lão lại lên tiếng:

- Ông có mệt lắm thì đi ngủ trước đi, à, mà để lão kể tiếp chuyện này cho ông nghe.


Bả lão thở ra một cái dài, nằm xuống, nghiêng người về phía người đàn ông, đôi mắt nhắm lại như cố ngăn một giọt nước mắt cũng gần như khô đặc chực len qua hai mí mắt.


- Hai tháng sau kể từ lần trở về thứ nhất, cũng người hàng xóm ấy, vào buổi sáng sớm hớt hải chạy tới đập cửa nhà tôi, hổn hển "Khi đêm hắn về cũng với hai người lần trước, tập hợp dăm ba người gì đó, bắt chú nó trói lại quì xuống, nó đọc cái gì đó, xong hai người kia đè chú nó xuống và cắt đầu, không một tiếng kêu, chỉ thấy một vòi máu đỏ tươi phun ra. Xong họ lẳng lặng bỏ đi".



Người hàng xóm nói một thôi dài, tôi chưa kịp nhận ra việc gì cả. Người hàng xóm vụt chạy đi. Tôi thẩn thờ bước vào nhà, không đủ sức gọi ông nhà tôi dậy. Tôi ngồi không biết bao lâu, chìm trong cơn mê và hình như tôi lịm đi cho đến khi tiếng kêu khóc vang lên chung quanh, tôi ngồi bật dậy. Tôi bắt đầu tỉnh lại và hiểu ra mọi chuyện.



- Xác của chú nó được phủ một tấm vải trắng để nằm trên chiếc giường tre kê trước sân. Tôi thẩn thờ bước ra ngồi xuống bên cái xác đã gần như lạnh ngắt và cứng đờ.


Tôi hiểu ra mọi chuyện rồi. Nó bỏ đi đâu suốt mấy năm trời, làm gì, theo ai, rồi tại sao chú nó bị chính nó giết. Chú nó làm hội đồng gì đó ông à. Mà tại sao lại giết chú của mình cơ chứ. Đau xót quá ông ơi. Mà ai bảo nó làm việc đó cơ chứ?


Bà lão nấc lên nhưng tiếng nấc đọng lại trong cổ họng, trong đêm tối người đàn ông mơ hồ thấy một dòng máu lệ đang nghẹn ngào trào ra tận con tim già cỗi của bà lão.



6.



Sáng hôm sau, thu gom xong mớ sắt thép phế liệu và chất lên chiếc xe đạp đẩy của mình, người đàn ông sửa soạn lên đường, bà lão ra tận bờ suối. Ban mai trời lành lạnh, sương còn đọng trên lớp cỏ khô. Nhưng giọt sương không giống những giọt lệ khô của bà lão, chúng lóng lánh như những hạt thủy tinh đủ màu sắc. Một vài con chim sẻ ríu ra ríu rít bay tới bay lui như muốn hỏi tại sao con người lại có mặt tại đây và lấy cái gì để ăn khi chính chúng ngay hạt cỏ cũng khó mà tìm.


- Ông sửa soạn đi đó à? Bà lão lên tiếng.

- Cháu sẽ vào uống nước với cụ rồi xin phép đi.


Khi đã vào trong nhà, ấm lá vối đã sôi sùng sục, ông rót ra hai chén, không mời bà lão, ông bưng chén và từ từ nhắp từng ngụm nhỏ.

- Thưa cụ, ông nói, cháu không có gì nhiều, xin cụ nhận cho.


Ông lấy cái bọc nilon nhét cẩn thận trong túi áo, lấy ra mấy đồng bạc đặt trước mặt bà lão.


- Cám ơn ông, tôi không nhận đâu, tôi không cần tiền, tôi chẳng có việc gì phải tiêu tiền. Nếu cần gì tôi chỉ mang những thứ tôi có được xuống làng đổi, không cần tiền. Ông cất đi.


Người đàn ông không dám nài nỉ. Sau khi uống hết bát nước lá vối, ông từ giả bà lão và lên đường. Chiếc xe đạp không đạp được lại cùng ông lang thang qua muôn dặm đường để tìm cái ăn. Chuyến này ông hi vọng có chút tiền khá khá với đống sắt chất thải chiến tranh này. Vợ ông hẳn đang mong ông về lắm. Chuyến này ông đi hơi lâu, không biết vợ ông ở nhà ra sao, có còn đủ gạo tiền cho nàng không.


Người đàn ông trong một lúc quên mất bà lão và câu chuyện đau lòng của bà. Ông đang nghĩ đến vợ mình và tưởng tượng cái giây phút hạnh phúc ôm nàng trong tay. Đôi mắt xanh thăm thẳm hun hút một nỗi thèm khát cháy bỏng, cặp môi của nàng lúc nào cũng mọng lên như chờ đợi nguồn ái ân cuồng nhiệt. Thế nào cũng phải có với nàng một đứa con, anh nghĩ thầm và mỉm cười một mình. Không! Phải hai đứa con mới được. Một trai, một gái. Rồi ông lại tưởng tượng ra khuôn mặt của hai đứa con. Thằng cu sẽ giống ông. Bé gái sẽ giống nàng. Bấy giờ ông sẽ không đi làm cái việc này nữa. Sẽ dành dụm tiền mua vài công đất, làm một cái nhà lá, nuôi vài ba con heo, dăm bảy con gà. Hàng ngày ông sẽ làm vườn, nàng chăm các con và lo việc vặt trong nhà. Gia đình ông sẽ sống một cuộc sống bình dị, đầm ấm và hạnh phúc. Ông sẽ trở lại vùng này để đón bà lão về chăm sóc. Ông sẽ gọi bà là mẹ. Các con ông sẽ có bà nội.


Mãi nghĩ mông lung, ông ra đến đường cái lúc nào không hay. Lòng đang phấn chấn ông đẩy xe chạy bon bon, quên cả mệt nhọc.



7.



Với đống chất thải chiến tranh đó ông kiếm được cũng khá. Gởi chiếc xe-đạp-không-đạp-được tại nơi thu mua phế liệu, ông vừa đi vừa chạy mong sao khoảng bốn năm giờ sáng hôm sau là ông về đến nhà. Có lúc khát quá ông ghé vào bất kỳ một nhà dân nào đó xin gáo nước lạnh rồi bối hả đi tiếp. ông đang vui với cái tương lai tưởng tượng của mình, lòng ông tràn ngập về một cái-hạnh-phúc-chưa-có-thật.


Bóng tối đổ xuống bao giờ ông cũng không hay. Ông vẫn lầm lũi trong bóng tối. Say cái hơi men của một hạnh- phúc-chưa-có-thật trong bóng tối. Bóng tối của đất trời. Bóng tối của thế gian. Bóng tối đã chụp xuống đời ông, đời bao nhiêu người khác trong từng giờ, từng ngày, từng tháng năm. Và bây giờ thì ông đang chạy trong bóng tối mà lòng thì mơ về một thứ ánh sáng của hạnh phúc.


Ông mệt lã ngồi xuống bên bờ một cái mương trước lối vào cái chòi của minh. Hình như có một tia sáng yếu ớt rựng lên ở phía xa bầu trời, lác đác vài tiếng gà eo óc gáy nặng nề đâu đó không đủ sức xua đuổi khí lạnh u uất đang trùm lên mọi vật.


Ông gắng đứng dậy đi về phía chòi của mình cũng vừa lúc liếp cửa chòi hé mở. Một người đàn ông hơi khom lưng xuống để bước ra, chợt nhìn thấy có người đến, ông ta quay ngay vào. Ông bỡ ngỡ đứng lại. Và chỉ một thoáng sau, vợ ông bước ra đi vội về phía ông. Khuôn mặt nàng lạnh lùng dù đôi mắt hãy còn ngái ngủ. Nàng không nhìn ông, đưa tay chỉ về hướng mà ông vừa từ đó đi tới:


- Có lẽ ông nên đi khỏi đây thì hơn, nàng nói, tôi đã tự lo cho tôi được rồi, và ông, ông cũng hãy biết tự lo cho ông đi. Mong rằng ông không bao giờ trở lại đây nữa.


Tia sáng yếu ớt không đủ sức xuyên qua lớp mây mù đang ùn lên khắp nơi. Trời chưa kịp sáng hình như đã tối lại. Người đàn ông nghe tim mình nhói đau, dòng máu lạnh tanh đọng từng cục len đi lạo xạo trong người ông. Không một lời, ông quay lại lối cũ, con đường ông vừa mới đi qua trong đêm tối, giờ trở lại, ngày vẫn chưa lên.



(Ghi chú của tác giả: Hình như người đàn ông sau đó có tìm lại căn chòi của bà lão nhưng không gặp, bà đã bỏ đi đâu hay đã chết, không ai biết. Người đàn ông thì nghe đâu sau đó mấy năm đã định cư ở nước ngoài. Và cho đến bây giờ chưa bao giờ tác giả gặp lại hay biết tin tức gì.)



Lê Nam Phương (Lê Văn Trung)

Thư Quán Bản Thảo tập 31, Tháng 4-2008


Những bài thơ về Mẹ

LỜI RU Đôi khi nhớ đến se lòng Một lời ru thuở còn nằm trong nôi Bây giờ Mẹ của con ơi Mẹ là riêng một cõi trời lòng con Mẹ ...