ĐỜI CÓ
NHIỀU CHUYỆN ĐÁNG BUỒN
(Tác giả: LÊ NAM PHƯƠNG tức
Thi sĩ Lê Văn Trung)
1.
Người đàn ông loay hoay mãi với chiếc xe đạp cà tàng của mình. Gọi
là xe đạp cho có vẻ như thế. Thật ra đó chỉ là một mớ sắt hoen rỉ được nối kết
lại với nhau. Một cái khung vá chằng vá đụp bằng những mũi hàn lỡm chỡm. Hai
vành xe được chế tạo bởi những vòng cắt ra từ cover, một loại ống cống bằng kim
loại từ thời quân Mỹ mang sang. Bọc ngoài lớp vành ấy là một lớp cao su được
cắt ra từ những ruột xe phế thải. Những nan xe được hàn bằng những thanh sắt
phi 10 chen lẫn với nhũng que gỗ. Không có bàn đạp. Không có xích. Không có tay
lái. Để điều khiển chiếc xe, người đàn ông phải buộc vào một que gỗ nơi đáng lý
phải là cái ghi đông. Ấy thế mà chiếc xe đã cùng ông lang thang trên khắp nẻo
đường xuôi ngược. Len lỏi vào các làng mạc hẻo lánh, những vùng nông thôn heo
hút. Ăn bờ ngủ bụi là chuyện thường. Có khi ông leo lên tận đỉnh núi, hay vào
sâu trong rừng. Lạc mấy ngày, ăn đọt cây đoát, môn rừng, uống nước bùn, ngủ với
sên vắt muỗi rừng.
Người đàn ông ấy là ai?
Chẳng ai biết.
Nhưng ông biết ông là ai.
Ông đang làm cái việc mà hình như nhiều người cùng thời đang làm để
kiếm cái ăn, cho ông và cho người vợ đang ngày đêm trông ông về với món tiền
nho nhỏ sống qua ngày: Ông đi thu nhặt phế liệu về bán lại cho các vựa thu mua.
Vài ba tuần ông mới về nhà một lần. Bởi vì với chiếc xe như thế ông không thể
đi, về dễ dàng được.
Trong nhũng chuyến lang thang vì cơm áo, ông đã gặp được nhiều
người, nghe được nhiều chuyện. Những lúc ấy ông lại nghĩ về đời mình, nghĩ về
bao nhiêu người, bạn bè người thân. Kè còn, kẻ mất. Người nằm dưới mộ sâu,
người lênh đênh phiêu bạt ở xứ người. Kẻ bỏ xác trên rừng, người gởi thân nơi
đại dương thăm thẳm. Và cũng còn bao người như ông đang lang thang lếch thếch
khắp cùng trời cuối đất. Tất cả đã mất hết. Chỉ còn lại những thây người biết
cử động, đang đi tìm miếng ăn. Bởi vì phải sống. Phải sống.
Không ai có thể tự chọn lựa cho mình. Làm sao chọn cho mình cái
chết?
2.
Cho chiếc xe lăn xuống triền dốc. Ông chạy theo với một tốc độ vượt
sức chịu đựng. Con đường mòn nho nhỏ, hai bên hình như không có nhà. Trời nắng
gắt. Mồ hôi dường như không còn. Người ông khô kiệt. Không chịu nổi. Ông thả
tay để chiếc xe tự do lao xuống con đường với một vận tốc không có gì kiềm lại.
Ông ngã nhoài bên đường. Hai mắt nhắm lại. Ông thấy người nhẹ tênh. Giá mà chết
được lúc này.
Ông mở mắt. Bầu trời trên cao mây trắng trôi bập bềnh. Ông cũng
thấy mình trôi bập bềnh. Giờ này chắc vợ ông đang ngồi ngoài hiên mái chòi lợp
lá cọ. Nàng chải tóc và nói chuyện với con mèo lông vàng ngồi dưới chân nàng
mong tìm chút hơi ấm của con người vốn từ lâu không còn đủ thời giờ để âu yếm
vuốt ve nó. Cái chòi dựng tạm bợ bên bìa rừng hoang vắng quạnh hiu. Ông thấy
thương nàng vô hạn. Và ông mơ màng thấy nàng từ xa xa đi gần về phía ông. Ông
nhắm mắt để cho ảo giác chập chờn hi vọng đó chính là nàng. Nhưng hình như ông
nghe tiếng ai đó đang gọi:
- Ông gì đó ơi!
Tiếng gọi yếu ớt, giọng khàn khàn, buồn đục như tiếng gọi từ trong
sâu thẳm của rừng già. Ông đã từng nghe tiếng gọi này trong những giấc mơ của
mình.
- Ông ơi? Ông đang làm sao thế?
Ông mở mắt. Một bà già tóc đã bạc, lưng còng, tay chống một cái gậy
tre, người gầy và run run, duy chỉ có đôi mắt là còn linh hoạt. Bà tiến gần về
phía người đàn ông và cúi xuống như để kiểm tra xem người nằm đó còn sống hay
đã chết.
- Dạ chào bà, người đàn ông mỏi mệt nói, bà có thể cho tôi xin
miếng nước không ạ?
- Lạy trời! Ông còn sống. Lão cứ tưởng ông đã chết. Thôi hãy ráng
đứng dậy, cố đi với lão về nhà. Bà đưa tay chỉ về cuối chân đồi.
Người đàn ông đứng lên dùng tay phủi bùn đất bám dính vào áo quần
và mệt mỏi theo sau bà lão. Con đường mòn chỉ vừa một người đi đổ xuống chân
đồi. Hai bên cỏ dại mọc tràn lan, những dây cỏ gai nở bông màu tím nhẹ, những
cây cúc dại lác đác những nụ vàng, vài con bướm đủ màu sắc bay chập chờn từ hoa
này sang hoa khác. Đồi dốc đổ thoai thoải xa dần xuống tận bờ một con suối mùa
này hình như cũng cạn khô nên nom rõ những tảng đá hai bên, những gốc cây đã bị
đốn nhô lên như những hình nhân quái dị.
Bà lão bước đi nặng nề phía trước, lưng còng quá nên có cảm giác
mặt bà luôn luôn nhìn xuống đất. Có cái gì đó nơi bà lão này khiến người đàn
ông nhớ đến mẹ mình, và ông cảm thấy gần gũi như được chở che. Ông cảm thấy một
nguồn thương cảm vô hạn dâng lên trong lòng. Bất chợt ông gọi nhỏ
"Mẹ". Bà lão không nghe gì, cứ lầm lủi bước đi.
3.
Từ dưới triền đồi chiếc xe đạp của ông nằm chỏng chơ, hai bánh xe với
những cái nan xe bằng gỗ vẫn còn quay quay theo mỗi đợt gió thốc tới. Đống sắt
vụn đổ tung toé nằm rải rác giống những mãnh bom bên một cái hố con.
Người đàn ông nhìn chiếc xe buột miệng:
- Thấy mẹ. Không biết có gãy xe không.
Bà lão mơ hồ như nghe người đàn ông gọi:
- Ông nói sao? Ờ, nhà lão ở tận dưới kia gần con suối cạn ấy. Cơ
khổ! Làm sao mà ông nằm ở đây vậy?
Không đợi người đàn ông trả lời, bà lão kể lể;
- Năm ngoái cũng có một người ngang qua đây, cũng trạc tuổi ông. Mà
sao ông lại đến đây? À mà thôi, tôi tò mò chuyện các người làm gì. Hãy vào uống
nước nghỉ ngơi, rồi muốn đi thì đi. Mà có ở lại cũng không sao. Lão sống cô
độc, buồn lắm, muốn có người trò chuyện cho đỡ buồn.
Bà lão đưa tay kéo liếp cửa lợp bằng lá cọ, quay về phía người đàn
ông:
- Ông vào trong đi, tôi đi lấy ít nước nấu nắm lá vối. Đây là loại
nước giải khát duy nhất và cũng ngon lắm, hơn hẳn các loại danh trà mà ông
thường uống đấy.
Bà lão cười hóm hém sau câu nói đùa của mình và chống gậy đi về
phía bờ suối. Người đàn ông bước vào trong. Một chiếc chỏng tre ọp ẹp kê sát
vách lợp bằng lá rừng và được nẹp vào nhau bằng những cây sậy tròn cở ngón tay.
Phía cuối giường là cái bếp được kê bởi ba hòn đá. Vài cái soong đã móp méo
treo lủng lẳng trên vách. Hơi nóng hãy còn trong lớp tro ủ, thỉnh thoảng một
cọng khói lẻ loi hiu hắt bay lên. Ông bước ra sân nhặt một ít cành khô đem vào
nhuốm bếp. Bà lão vào mang theo một ấm nước với ít lá vối đã rửa sạch. Bà ngồi
xuống cạnh người đàn ông, không nhìn ông, bà nói bâng quơ:
- Đôi lúc lão cũng thấy buồn thật. Nhưng quen rồi.
Thưa cụ, thế con cái cụ đâu? Cụ sống một mình thế này lỡ đêm hôm
mưa gió...
Bà lão vẫn chăm chú nhìn vào bếp lửa đang cháy, thở dài não nuột:
- Con với chả cái. À mà tôi cũng có một đứa con đấy chứ. Tôi và ông
lão nhà tôi hiếm muộn chỉ có một mặt con. Ôi mà thôi! Thà không có con còn thấy
đở khổ hơn, đở đau lòng hơn...
- Cháu xin lỗi đã gợi lại những chuyện không vui cho cụ. Nhưng
mà...
Người đàn ông bỏ lửng câu nói, nhìn bà lão, lòng ông thấy xót xa,
ông linh cảm trong người đàn bà này đang chứa chất một nỗi đau đớn kinh khủng
lắm.
Ấm nước sôi sục sục, bọt tràn ra khỏi miệng, một mùi thơm ngai ngái
xông lên khắp căn chòi, ông hít thật sâu, mùi thơm xông lên tận não. Ông cảm
thấy dễ chịu vô cùng. Bà lão lấy hai cái bát sành đã sứt miệng thong thả rót
nước ra, một lớp bọt trắng trắng vàng vàng sóng sánh trên miệng chén. Đẩy chén
nước về phía người đàn ông, bà lão mời:
- Ông uống đi, nóng thì thêm ít nước lạnh vào. Loại nước này lợi
gan, mật, ăn dễ tiêu, đả khát. Này mà ông có con không? Hãy dạy cho con ông cái
điều mà trước đây chúng ta không được phép dạy. Đó là lòng thương yêu, sự quí
trọng mạng sống của con người. Trước đây chúng chỉ được dạy lòng căm thù, một
viên đạn phải giết cho được hai mạng người. Và đau xót hơn nữa, chúng được dạy
phải giết chính những người thân yêu của mình để chứng tỏ lập trường kiên định
không khoan nhượng đối với những người được qui cho là giai cấp bóc lột, giai
cấp tiểu tư sản...
Hình như khi nói những điều này đôi mắt bà lão ánh lên một tia giận
dữ nhưng rồi bà nén lại, đôi mắt chùng xuống. Bà hớp một ngụm nước, lấy tay cời
thêm que củi cho lửa cháy bùng lên.
- Thưa cụ thế ông cụ?
- Ông nhà tôi mất cách đây hai mươi năm rồi. Chết vì buồn bã quá.
Vì đau lòng quá. Vì tủi hổ với giòng giống tổ tiên
Nhưng mà... Người đàn ông tò mò.
4.
- Từ cái đêm cách đây hai mươi năm ấy, ông biết không, từ cái đêm oan
nghiệt đó, ông nhà tôi như người mất linh hồn, sống vất vưởng như cái bóng.
Suốt ngày không nói. Đôi mắt sâu hun hút như một vực thẳm chứa nỗi buồn của
kiếp người. Từ cái đêm ấy.
Bà lão chợt im lặng. Ngoài kia mặt trời đang xuống thấp. Lác đác có
vài cánh chim bay về phía đồi xa. Một luồng gió lành lạnh thổi nhẹ qua khung
cửa mang theo mùi hương của chiều. Ông vấn một điếu thuốc rê và châm lửa.
- Ông lão nhà tôi trước kia cũng hút thuốc. Nhưng từ cái đêm oan
nghiệt đó... À, ông có biết uống rượu không? Trong cái chai dưới gầm giường kia
còn một ít đấy.
Người đàn ông lấy cái chai và rót rượu ra cái bát vừa uống nước
xong.
- Mời cụ.
- Không, tôi không biết uống rượu. Từ hôm giỗ ông nhà tôi vẫn còn
đấy. Ông không có con à? Phải dạy chúng đấy ông ạ. Lòng thương yêu. Quí trọng
mạng sống của con người. Đừng nuôi lòng thù hận, bất cứ ai.
Người đàn ông vẫn chưa hiểu tận tường câu chuyện mà bà lão đang kể.
Hình như bà thấy quá khó khăn nếu phải kể ra cái điều mà bà muốn quên đi, cái
điều mà từ đó tai họa đổ ập lên gia đình bà, lên đời ông cụ, lên đời bà. Ông
nhấp một tí rượu và chờ đợi.
- Ông biết không, nó là một thằng bé rất kháu khỉnh, đôi mắt sáng,
môi đỏ tươi, vầng trán thông minh. Nhưng ông biết sao không? Chúng tôi hình như
càng ngày càng mất cái quyền được dạy dỗ nó. Không có quyền.
Giọng bà trầm lại gần như bà đang nói với chính mình. Người đàn ông
thấy một giọt nước mắt đặc quánh nặng nề lăn từ hốc mắt sâu hoắm của bà lão,
dường như không đủ sức lăn xuống nữa, giọt lệ nằm lại nơi lưng chừng gò má nhăn
nheo.
- Năm mười lăm tuổi nó bỏ nhà đi không nói với chúng tôi lấy nửa
lời. Hoảng. Chúng tôi đi tìm nó trong vô vọng. Mất ăn mất ngủ. Bệnh viện nào
chúng tôi cũng đến, nhà giam nào chúng tôi cũng đến. Mấy thầy cô nơi trường
cháu học cũng không thể trả lời chúng tôi. Chúng tôi chia nhau đi tìm. Ông về
tận dưới quê nội, tôi ra tận quê ngoại. Không có. Chúng tôi tuyệt vọng ê chề.
Người đàn ông nôn nao:
- Nhưng cuối cùng có tìm ra anh ấy không? Thưa bà.
Bà lão rót thêm cho mình một chén nước nữa, bà thổi nhẹ lớp váng và
uống từ từ. Giọt nước mắt trên gò má nhăn nheo của bà cũng đã khô, chỉ còn để
lại một chấm màu xam xám. Bên ngoài trời đã bắt đầu tối. Bà lão đưa tay dò tìm
trong góc bếp lấy ra chiếc đèn dầu làm bằng một nửa cái chai nho nhỏ.
- Ông thắp giùm đèn đi, tôi luộc mấy củ lang. Tôi đãi ông bữa tối
bằng củ lang. Nhà chỉ còn có thế. Hôm nay tôi không xuống làng được, hết gạo từ
mấy bữa nay.
Người đàn ông đỡ cái soong từ tay bà lão và bắt lên bếp. Bài trường
ca buồn vô hạn của đêm mùa hạ nơi đồi nương bắt đầu rả rích. Bóng của hai người
rung rinh lay động trên vách lá rách nát. Hai mái của túp lều không đủ kín để
che ánh sáng yếu ớt của những vì sao xa, và những con đom đóm chớp sáng khiến
người đàn ông nhớ tới những đêm nằm rừng, ngửa mặt lên trời, nhớ đôi mắt của
nàng, đôi mắt chứa đựng cả bầu trời xanh thăm thẳm.
Mùi của khoai lang đang chín thơm lựng, ông nhớ đôi môi đỏ thắm của
nàng. Đôi môi ấy đã mím chặt lại khi lần đầu tiên đưa một mẩu khoai mì lên
miệng. Nhưng rồi gần chín năm trời, hai vợ chồng ông đã ăn khoai mì thay cơm.
Bà lão cẩn thận vớt từng củ khoai để lên chiếc đĩa bằng sành cũng
đã sứt mẻ. Từ cái bọc bằng nilon bà lấy ra một ít muối.
Hai người ngồi ăn trong im lặng. Mỗi người đang thả dòng suy nghĩ
của mình theo một hướng. Bà lão hình như chưa thể nói ra điều đau lòng. Người
đàn ông lại nôn nao muốn biết tại sao người con bỏ đi, tại sao bà lão lại vừa
đau xót vừa có vẻ như uất giận. Cuối cung bà lão lên tiếng:
- Ừ này, ông ở đâu đi lạc về đây? Ông đang làm gì?
- Cháu ở cách đây cũng xa, người đàn ông trả lời ậm ừ. Nói chung có
nói cụ cũng không biết. Nhưng cụ yên tâm. Cháu là người đang cố sống lương
thiện. Bây giờ cháu đi đâu, bất cứ nơi nào cũng chỉ để kiếm cái ăn, kiếm cái ăn
bằng mồ hôi của mình.
- Mà thôi. Trước đây cũng có một người lạc tới chỗ này. Người ấy
cũng trạc tuổi ông. Cũng ít nói. Cũng cho mình đang cố sống lương thiện.
5.
Bà lão hình như quên mất câu chuyện mình kể dở dang, loay hoay dọn
chiếc chõng tre.
- Tối nay ông trải mấy cai bao kia gần bếp ngủ cho ấm. Đêm ở đây
lạnh lắm.
- Nhưng thưa cụ, người con của cụ sau có trở về không ạ?
Bà lão leo lên chõng tre, chưa muốn nằm, ngồi thu gối lại, mắt lim
dim xa vắng:
- Thật ra tôi không muốn nhớ tới chuyện này ông ạ. Lại càng không
muốn nhớ tới đứa con mà mình đã bứt ruột sinh ra. Nhưng biết làm sao, thưa ông.
Giọt máu của chúng tôi mà!
Người đàn ông đứng dậy kéo liếp cửa lại, trời bắt đầu trở lạnh. Gió
thổi qua những khe cửa rách làm những mãnh lá kè rung lên tạo nên một thứ âm
thanh rin rít. Xa xa về phía tận ngôi làng vọng đến tiếng chó sủa bâng quơ.
- Nếu còn sống năm nay nó cũng gần bằng tuổi ông, à, mà tôi có biết
tuổi ông là bao nhiêu đâu.
Bà lão thở dài. Một lần nữa giọt nước mắt khô đặc lại rỉ ra nơi
khoé mắt sâu hun hút của bà lão, rồi cũng như lần trước, nó không đủ sức lăn
xuống mà đọng lại cam đành, chịu đựng.
Nó bỏ đi thật ông à, bà lão lại xoay về chuyện cũ, không tin tức,
không để lại chút dấu vết gì, như thể nó chưa hề hiện diện trên đời này. Còn
chăng là nỗi đau trong lòng chúng tôi.
Bà lão hít một hơi dài như để lấy can đảm để tiếp câu chuyện:
- Hai năm sau từ ngày nó bỏ đi, một người trong làng đến nhà tôi
với vẻ mặt hớt hải và bí mật, kéo tôi ra một góc sân, kề sát miệng vào tai
tôi: "Đêm qua, nó về làng bà ạ." "Ai?". "Thì
thằng con bà chứ ai". Giọng người đó nhỏ lại hơn "Nó mang
súng có cả hai người lạ nữa cùng đi với nó" Lúc đó tôi nghe hai
tai mình ù ù, đôi mắt hoa và không còn đứng vững nữa. Sau khi người khách ra
về, tôi vào báo lại với nhà tôi. Ông im lặng. Tôi cũng im lặng. Nhưng trong
lòng không khỏi khấp khởi mừng. Ít ra nó cũng còn sống ông ạ.
Bà lão lại lau giọt nước mắt đã khô và cũng đọng lại một vệt xam
xám trên gò má nhăn nheo.
- Làm sao mà nó không ghé về nhà nhỉ? Ít ra cũng để thăm chúng tôi
một lát chứ. Bà lão như nói chuyện với chính mình.
- Có lẽ anh ấy bận công chuyên quá, người đàn ông an ủi. Ông hiểu
ra chuyện gì rồi. Anh con trai đó đi đâu, làm gì, với ai, và trở lại làm gì,
ông mơ hồ thấy được. Hình như trong thời kỳ ông sống trước đây, ông đã nghe
nhiều chuyện như thế. Dĩ nhiên mỗi chuyện có khác nhau, nhưng cơ bản là giống
nhau cái chung nhất
Hồi còn học trung học, trong lớp ông cũng có vài người tự dưng biến
mất, về sau thì nghe nói người này chết chỗ này, người kia đang xuất hiện đâu
đó, bí mật, hư hư thật thật. Học xong trung học, cố gắng ngồi ở giảng đường đại
học vài năm cuối cùng rồi cũng phải đi đánh nhau, tham dự vào cái trò chơi chém
giết chẳng để làm gì, chỉ tìm cách trốn chạy những vây bắt của số phận con
người trong cái thời buổi mà con người bị điều khiển bởi một hệ thống đủ màu
sắc của cái gọi là văn minh vật chất, trong cái thời buổi mà ngôn ngữ của nhân
gian cần phải được định nghĩa lại.
Im lặng một lát bà lão lại lên tiếng:
- Ông có mệt lắm thì đi ngủ trước đi, à, mà để lão kể tiếp chuyện
này cho ông nghe.
Bả lão thở ra một cái dài, nằm xuống, nghiêng người về phía người
đàn ông, đôi mắt nhắm lại như cố ngăn một giọt nước mắt cũng gần như khô đặc
chực len qua hai mí mắt.
- Hai tháng sau kể từ lần trở về thứ nhất, cũng người hàng xóm ấy,
vào buổi sáng sớm hớt hải chạy tới đập cửa nhà tôi, hổn hển "Khi
đêm hắn về cũng với hai người lần trước, tập hợp dăm ba người gì đó, bắt chú nó
trói lại quì xuống, nó đọc cái gì đó, xong hai người kia đè chú nó xuống và cắt
đầu, không một tiếng kêu, chỉ thấy một vòi máu đỏ tươi phun ra. Xong họ lẳng
lặng bỏ đi".
Người hàng xóm nói một thôi dài, tôi chưa kịp nhận ra việc gì cả.
Người hàng xóm vụt chạy đi. Tôi thẩn thờ bước vào nhà, không đủ sức gọi ông nhà
tôi dậy. Tôi ngồi không biết bao lâu, chìm trong cơn mê và hình như tôi lịm đi
cho đến khi tiếng kêu khóc vang lên chung quanh, tôi ngồi bật dậy. Tôi bắt đầu
tỉnh lại và hiểu ra mọi chuyện.
- Xác của chú nó được phủ một tấm vải trắng để nằm trên chiếc
giường tre kê trước sân. Tôi thẩn thờ bước ra ngồi xuống bên cái xác đã gần như
lạnh ngắt và cứng đờ.
Tôi hiểu ra mọi chuyện rồi. Nó bỏ đi đâu suốt mấy năm trời, làm gì,
theo ai, rồi tại sao chú nó bị chính nó giết. Chú nó làm hội đồng gì đó ông à.
Mà tại sao lại giết chú của mình cơ chứ. Đau xót quá ông ơi. Mà ai bảo nó làm
việc đó cơ chứ?
Bà lão nấc lên nhưng tiếng nấc đọng lại trong cổ họng, trong đêm
tối người đàn ông mơ hồ thấy một dòng máu lệ đang nghẹn ngào trào ra tận con
tim già cỗi của bà lão.
6.
Sáng hôm sau, thu gom xong mớ sắt thép phế liệu và chất lên chiếc
xe đạp đẩy của mình, người đàn ông sửa soạn lên đường, bà lão ra tận bờ suối.
Ban mai trời lành lạnh, sương còn đọng trên lớp cỏ khô. Nhưng giọt sương không
giống những giọt lệ khô của bà lão, chúng lóng lánh như những hạt thủy tinh đủ
màu sắc. Một vài con chim sẻ ríu ra ríu rít bay tới bay lui như muốn hỏi tại
sao con người lại có mặt tại đây và lấy cái gì để ăn khi chính chúng ngay hạt
cỏ cũng khó mà tìm.
- Ông sửa soạn đi đó à? Bà lão lên tiếng.
- Cháu sẽ vào uống nước với cụ rồi xin phép đi.
Khi đã vào trong nhà, ấm lá vối đã sôi sùng sục, ông rót ra hai
chén, không mời bà lão, ông bưng chén và từ từ nhắp từng ngụm nhỏ.
- Thưa cụ, ông nói, cháu không có gì nhiều, xin cụ nhận cho.
Ông lấy cái bọc nilon nhét cẩn thận trong túi áo, lấy ra mấy đồng
bạc đặt trước mặt bà lão.
- Cám ơn ông, tôi không nhận đâu, tôi không cần tiền, tôi chẳng có
việc gì phải tiêu tiền. Nếu cần gì tôi chỉ mang những thứ tôi có được xuống
làng đổi, không cần tiền. Ông cất đi.
Người đàn ông không dám nài nỉ. Sau khi uống hết bát nước lá vối,
ông từ giả bà lão và lên đường. Chiếc xe đạp không đạp được lại cùng ông lang
thang qua muôn dặm đường để tìm cái ăn. Chuyến này ông hi vọng có chút tiền khá
khá với đống sắt chất thải chiến tranh này. Vợ ông hẳn đang mong ông về lắm.
Chuyến này ông đi hơi lâu, không biết vợ ông ở nhà ra sao, có còn đủ gạo tiền
cho nàng không.
Người đàn ông trong một lúc quên mất bà lão và câu chuyện đau lòng
của bà. Ông đang nghĩ đến vợ mình và tưởng tượng cái giây phút hạnh phúc ôm
nàng trong tay. Đôi mắt xanh thăm thẳm hun hút một nỗi thèm khát cháy bỏng, cặp
môi của nàng lúc nào cũng mọng lên như chờ đợi nguồn ái ân cuồng nhiệt. Thế nào
cũng phải có với nàng một đứa con, anh nghĩ thầm và mỉm cười một mình. Không!
Phải hai đứa con mới được. Một trai, một gái. Rồi ông lại tưởng tượng ra khuôn
mặt của hai đứa con. Thằng cu sẽ giống ông. Bé gái sẽ giống nàng. Bấy giờ ông
sẽ không đi làm cái việc này nữa. Sẽ dành dụm tiền mua vài công đất, làm một
cái nhà lá, nuôi vài ba con heo, dăm bảy con gà. Hàng ngày ông sẽ làm vườn,
nàng chăm các con và lo việc vặt trong nhà. Gia đình ông sẽ sống một cuộc sống
bình dị, đầm ấm và hạnh phúc. Ông sẽ trở lại vùng này để đón bà lão về chăm
sóc. Ông sẽ gọi bà là mẹ. Các con ông sẽ có bà nội.
Mãi nghĩ mông lung, ông ra đến đường cái lúc nào không hay. Lòng
đang phấn chấn ông đẩy xe chạy bon bon, quên cả mệt nhọc.
7.
Với đống chất thải chiến tranh đó ông kiếm được cũng khá. Gởi chiếc
xe-đạp-không-đạp-được tại nơi thu mua phế liệu, ông vừa đi vừa chạy mong sao
khoảng bốn năm giờ sáng hôm sau là ông về đến nhà. Có lúc khát quá ông ghé vào
bất kỳ một nhà dân nào đó xin gáo nước lạnh rồi bối hả đi tiếp. ông đang vui
với cái tương lai tưởng tượng của mình, lòng ông tràn ngập về một
cái-hạnh-phúc-chưa-có-thật.
Bóng tối đổ xuống bao giờ ông cũng không hay. Ông vẫn lầm lũi trong
bóng tối. Say cái hơi men của một hạnh- phúc-chưa-có-thật trong bóng tối. Bóng
tối của đất trời. Bóng tối của thế gian. Bóng tối đã chụp xuống đời ông, đời
bao nhiêu người khác trong từng giờ, từng ngày, từng tháng năm. Và bây giờ thì
ông đang chạy trong bóng tối mà lòng thì mơ về một thứ ánh sáng của hạnh phúc.
Ông mệt lã ngồi xuống bên bờ một cái mương trước lối vào cái chòi
của minh. Hình như có một tia sáng yếu ớt rựng lên ở phía xa bầu trời, lác đác
vài tiếng gà eo óc gáy nặng nề đâu đó không đủ sức xua đuổi khí lạnh u uất đang
trùm lên mọi vật.
Ông gắng đứng dậy đi về phía chòi của mình cũng vừa lúc liếp cửa
chòi hé mở. Một người đàn ông hơi khom lưng xuống để bước ra, chợt nhìn thấy có
người đến, ông ta quay ngay vào. Ông bỡ ngỡ đứng lại. Và chỉ một thoáng sau, vợ
ông bước ra đi vội về phía ông. Khuôn mặt nàng lạnh lùng dù đôi mắt hãy còn
ngái ngủ. Nàng không nhìn ông, đưa tay chỉ về hướng mà ông vừa từ đó đi tới:
- Có lẽ ông nên đi khỏi đây thì hơn, nàng nói, tôi đã tự lo cho tôi
được rồi, và ông, ông cũng hãy biết tự lo cho ông đi. Mong rằng ông không bao
giờ trở lại đây nữa.
Tia sáng yếu ớt không đủ sức xuyên qua lớp mây mù đang ùn lên khắp
nơi. Trời chưa kịp sáng hình như đã tối lại. Người đàn ông nghe tim mình nhói
đau, dòng máu lạnh tanh đọng từng cục len đi lạo xạo trong người ông. Không một
lời, ông quay lại lối cũ, con đường ông vừa mới đi qua trong đêm tối, giờ trở
lại, ngày vẫn chưa lên.
(Ghi chú của tác giả: Hình như người đàn ông sau đó có tìm
lại căn chòi của bà lão nhưng không gặp, bà đã bỏ đi đâu hay đã chết, không ai
biết. Người đàn ông thì nghe đâu sau đó mấy năm đã định cư ở nước ngoài. Và cho
đến bây giờ chưa bao giờ tác giả gặp lại hay biết tin tức gì.)
Lê Nam
Phương (Lê Văn Trung)
Thư Quán Bản Thảo tập 31, Tháng 4-2008
No comments:
Post a Comment